MẠC CẢNH HUỐNG MỘT KHAI QUỐC CÔNG THẦN NHÀ NGUYỄN

MẠC CẢNH HUỐNG MỘT KHAI QUỐC CÔNG THẦN NHÀ NGUYỄN

NGUYỄN PHƯỚC TƯƠNG

Mạc Cảnh Huống húy Lịch (1542-1677) là con út của Thái tông Mạc Đăng Doanh và thứ phi Đậu Thị Giang, là em trai của Hiển Tông Mạc Phúc Hải,Ninh Vương Mạc Phúc Tư, Khiêm Vương Mạc Kính Điển và Ứng vương Mạc Đôn Nhượng… (1).

Quê gốc của họ Mạc ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, phủ Kim Môn, trấn Hải Dương Đàng Ngoài, nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, Tp Hải Phòng.

Theo gia phả còn lại của họ Ngô (tức họ Mạc đổi thành họ Ngô) ở làng Cổ Trai, thì vào thế kỷ XVI đã có một bộ phận họ Mạc di tản vào Đàng Trong và lập một làng mới cũng lấy tên là Cổ Trai ở vùng Cửa Tùng, tổng Minh lương, huyện Minh Linh (nay thuộc huyện Hiền lương, tỉnh Quảng Trị). Tại làng mới này người ta đã xây dựng một nhà thờ tộc gọi là Tôn Miếu. Dân làng Cổ Trai mới gọi làng quê ở Đàng ngoài là làng Cổ Trai lớn (2).

Năm 1564, Mạc Cảnh Huống thành lập gia đình với bà Nguyễn Thị Ngọc Dương, là em gái của phu nhân Đoan quốc công Nguyễn Hoàng(3). Và như vậy, Mạc Cảnh Huống và Nguyễn Hoàng là anh em ‘cọc chèo” với nhau.

Năm 1568, dưới thời vua Mạc Mậu hợp (1562-1592) Mạc Cảnh Huống quyết định đưa gia đình vào Đàng Trong với ý đồ giúp cho Nguyễn Hoàng sau này, mặc dù lúc đó Nguyễn Hoàng còn đang phục vụ ở Đàng Ngoài theo yêu cầu của chúa Trịnh Tùng (1570-1620). Do đó mà sau khi Nguyễn Hoàng trở vào Thuận Hóa lần thứ hai vào năm 1600 và trở thành chúa Tiên thì Mạc Cảnh Huống cùng với Nguyễn Ư Kỷ và Tống Phước trị là bộ ba phụ tá đắc lực cho chúa Nguyễn.

Mạc Cảnh Huống có người anh ruột là Khiêm vương Mạc Kính Điển (?-1580), là một tướng văn võ song toàn, giữ chức Tổng soái Trung doanh, có uy tín lớn đối với quân đội nhà Mạc và đã qua đời vào thá g 10 năm Quang Hưng thứ 3 (1580) (4). Sau khi ông qua đời, người con gái của ông là quận chúa Mạc Thị Giai rời bỏ quê ương Đàng Ngoài vào Đàng Trong lúc 15 tuổi, vào năm 1593 để tìm người chú ruột là Mạc Cảnh Huống (5). Có lẽ quận chúa Mạc Thị Giai đã đưa người em gái của mình là quận chúa Mạc Thị Lâu cùng vào Đàng Trong vào dịp này.

Ông Mạc Cảnh Huống và bà Nguyễn Thị Ngọc Dương vốn là những gười rất sùng đạo Phật nên đã giúp bà con làng Cổ Trai ở Minh Linh (Quảng Trị) xây dựng chùa thờ Phật gọi là Lam Sơn Phật tự.

Phu nân Mạc Cảnh Huống vừa là thím ruột của quận chúa Mạc Thị Giai và quận chúa Mạc Thị Lâu, đồng thời cũng là dì của thế tử Nguyễn Phúc Nguyên, con thứ 6 của chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Bà đã có vai trò quan trọng trong việc tiến quận chúa Mạc Thị Giai vào hầu nơi tiềm để của thế tử Nguyễn Phúc Nguyên để dẫn tới hôn nhân của hai người cháu và về sau quận chúa Mạc Thị Giai trở thành hậu của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.

 

                                          

 

 

 

 

                                             

                                                                                                               

 

 

 

                                                                                                            

 

 

 

 

 

                                                                                       

 

 

 

 

 

 

 

G

Mạc Đăng Doanh

(? – 1540)

Mạc Cảnh Huống

(1542- 1677)

Mạc Kính Điển

 (?- 1580)

Nguyễn Hoàng

(1525-1613)

Mạc Thị Giai  + Nguyễn Phúc Nguyên

(1578-1630)           (1563-1635)                   

Mạc Cảnh Vinh + Nguyễn Phúc Ngọc Liên

 (?-?)                            (1593?- 1634?)

 

 

 

Gia phổ tộc Nguyễn và tộc Mạc trong mối quan hệ hôn nhân giữa hai dòng họ trong thế kỷ XVI-XVII.

Quận chúa Mạc Thị Lâu ban đầu cùng chị sống ẩn cư chùa Phật Lam Sơn và về sau lấy Quốc sư Võ Quới Công, làm việc tại phủ Chúa, là thầy dạy các thái tử của chúa Nguyễn.

Để đáp lại mối thâm tình về việc Mạc Cảnh Huống gả cháu gái cho mình, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên về sau gả con gái trưởng của mình là công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Liên cho con trai trưởng của Mạc Cảnh Huống là Mạc Cảnh Vinh (6).

Sau khi Mạc cảnh Vinh trở thành phò mã, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã cho phép ông và các bà Mạc Thị Giai và Mạc Thị Lâu được mang quốc tính- họ Nguyễn. Vì vậy trong gia phả tộc Nguyễn Phúc được ghi là Nguyễn Phúc Vinh, Nguyễn Thị Ngọc Giai và Nguyễn Thị Ngọc Lâu (7).

Nhân dân làng Cổ Trai, Quảng Trị đã xem ông Mạc Cảnh Huống cùng hoàng hậu Mạc Thị Giai và công chúa Nguyễn Thị Ngọc Liên là những ân nhân của làng, đã có công lao to lớn trong việc xây dựng Tôn Miếu và Lam Sơn Phật tự ở đây.

Mạc Cảnh Huỗng cũng như anh ruột mình là Khiêm vương Mạc Kính Điển, có tài năng trong lĩnh vực quân sự. Ông đã hoạch định chiến lược quân sự của chúa Nguyễn, cùng với Nguyễn Ư Kỷ và Tống Phước Trị, góp phần to lớn trong việc củng cố nền thống trị của nhà Nguyễn trong buổi ban đầu vào đầu thế kỷ XVII. Vượt lên trên hai huân thân nói trên, Mạc Cảnh Huống là người phục vụ lâu dài nhất dưới thời các chúa Nguyễn, kể từ thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng qua chúa sãi Nguyễn Phúc Nguyên cho đến chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan trong suốt 38 năm liên tục từ 1600 đến 1638.

Ông là vị chỉ huy tối cao của quân đội Đàng Trong, người vạch ra chiến lược quân sự để chống quân Trịnh ở phía Bắc và bình định quân Chiêm ở phương Nam. Dưới thời Nguyễn Hoàng, ông đã đóng góp nhiều công lao trong công cuộc Nam tiến, đánh chiếm Đồng Xuân và Tuy Hòa của Chămpa vào năm 1611, mở rộng bờ cõi Đại Việt về phía Nam. Để ghi nhận công lao của ông, năm 1617, chúa Tiên Nguyễn Hoàng tấn phong ông chức Nguyên huân Sư Thống thủ Thống Thái phó (8).

Dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, ông đã có vai trò quan trọng trong đường lối hòa bình để bình định bộ tộc Man ở Ai Lao thường hay cướp bóc, quấy rối ở biên giới phía Tây năm Tân Dậu (1621). Tiếp đó, ông cũng góp phần vào chiến thắng quân Trịnh do các danh tướng Nguyễn Khải và Nguyễn Danh Thế chỉ huy 5000 quân theo lệnh của chúa Trịnh Tráng đánh vào Đàng Trong lần thứ nhất vào năm 1627 và ngăn chặn được sự tấn công lần thứ hai của quân Trịnh vào năm 1633.

Trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang và chỉ huy quân đội Đàng Trong trong nhiều năm cũng như từ những bài học của thực tiễn chiến tranh, Thống Thái phó Mạc Cảnh Huống đã giành thời gian và trí tuệ để biên soạn cuốn sách về phép dùng binh, gọi là Binh thư trận đồ. Nhưng tiếc thay, cuốn binh thư này đã bị thất lạc (9).

Thực tế lịch sử đã cho hay, dưới thời tời các chúa Nguyễn, quân đội Đàng Trong có đủ sức mạnh để tự vệ và đảm bảo an ninh lãnh thổ. Sách Những cuộc du hành và những cuộc tranh luận của Fiar Dimingo Navarette 1618-1686, đã viết về sự tinh nhuệ của quân đội Đàng Trong rằng: “Tôi nghe nhiều lần người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha nói rằng quân đội chúa Nguyễn là những xạ thủ giỏi…Đây là lý do tại sao họ luôn giành ưu thế trong các cuộc đối đầu liên tiếp với chúa Trịnh”.

Giáo sĩ Cristoforo Borri, từng sống ở Đàng Trong trong những năm 1618-1622, đã hết lời ca ngợi tính ưu việt của quân đội Đàng Trong dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên: “Như vậy, ở khắp nơi, trên đất liên cũng như trên biển, vang dọi tên tuổi quang vinh, làm vẻ vang cho phẩm giá của quân đội Đàng Trong” (10).

Giáo sĩ Metello Saccano cũng đã đề cao sự hùng mạnh của quân đội Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn: “Với lực lượng quân sự cực kỳ nhanh nhẹ và đông đảo, chúa Đàng Trong đã giữ vững được kỷ cương trong sự thịnh vượng, an ninh và được thần dân kính phục” (11).

Sự hùng mạnh đó của quân đội Đàng Trong hiển nhiên có sự đóng góp hết sức quan trọng của huân thần Thống Thái phó Mạc Cảnh Huống với tư cách là tổng chỉ huy lực lượng vũ trang Đàng Trong.

Nhà Nguyễn cũng đã đánh giá cao sự đóng góp của Mạc Cảnh Huống trong việc xây dựng vương triều nhà Nguyễn trong buổi sơ khai rằng: “Khi Thái tổ Hoàng đế vào Nam trấn Thuận Hóa, Tống Phước Trị sớm dâng bản đồ sổ sách trong xứ, lại cùng Uy Quốc công Nguyễn Ư Kỷ, Thống binh Mạc Cảnh Huống đồng tâm tận lực phụ tá vương thất, thật có công trạng trong thời quốc sơ vậy. Cảnh Huống dần dần làm quan tới chức Thống inh, góp mưu nơi màn trướng công lao phụ tá buổi quốc sơ ngang với Nguyễn Ư Kỷ, Tống Phước Trị” (12).

Ông giúp chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) cho đến năm Mậu dần 1638 ông mới xin từ quan, nghỉ việc công ở tuổi 96 để tu hành. Ông chọn làng Trà Kiệu, huyện Diên Phước, dinh Quảng Nam (nay là xóm Hoàng Châu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) để định cư và trở thành thủy tổ của tộc Mạc ở đây (13).

Đến năm Đinh Mùi (1667) ở tuổi thọ 125, ông trùng tu ngôi chùa thờ Phật trên đồi Bảo châu có tên gọi là chùa Bảo Sơn Phúc hay Bảo Châu Sơn tự mà ông trở thành trụ trì của ngôi chùa này với pháp danh Thuyền Cảnh Chân Tu.

Trước đây vào thế kỷ XVI-XVII, dưới chân đồi Bảo châu có một nhánh cửa sông Thu Bồn chảy qua. Nhánh sông này chảy dưới chân Gò Hùng và Gò Hàm Rồng thuộc làng Chiêm Sơn, nơi đặt các lăng mộ của hai Hoàngg hậu Đoàn Thị Ngọc và Mạc Thị Giai (nay thuộc xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên). Dưới chân đồi Bảo Châu và Bảo Châu Sơn tự (nay thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên) có một bến đò rất tấp nập. Về sau dòng sông này đã bị bồi lấp (14).

Về sau, bà Mạc Thị Lâu cùng chồng là Quốc sư Võ Quới Công cũng đến nương nhờ cửa Phật tại Bảo Châu Sơn tự và viên tịch tại đây (15).

Thuyền Cảnh Chân Tu Mạc Cảnh Huống trụ trì ở Bảo Châu Sơn tự đến mười năm và được nhân dân trong vùng và dinh Quảng Nam tôn vinh như vị Phật sống. Nà sư mất vào tuổi 135, tại Bảo Châu Sơn tự ngày mồng 1 tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1677) (16).

Phần mộ của ông được táng tại vườn chùa Bảo Châu Sơn. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đã lệnh cho dinh Quảng Nam xây dựng đền “Trung Trinh Liệt” tại làng Trà Kiệu Tây để thờ Thủy tổ Mạc Cảnh Huống và cấp 2,2 mẫu công điền gọi là Rộc Đình để Ngũ Xã chăm lo việc thờ phụng ông hàng năm cùng các vị văn thần võ bá.

Cũng vào thời kỳ này, 12 tộc khác của Ngũ Xã Trà Kiệu là Trà Kiệu Trung, Trà Kiệu Đông, Trà Kiệu tây, Trà Kiệu Nam và Trà Kiệu Thượng cũng xây dựng nhà thờ Tiền Hiền Ngũ xã. Ngôi đình và nhà thờ đều được xât dựng trên xóm Hoàng châu ở Trà Kiệu Tây (nay thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên).

Cần nêu lên rằng trong vườn chùa Bảo Châu, ngoài mộ Mạc Cảnh Huống, còn có mộ của bà Nguyễn Thị Ngọc Dương, mộ của Vãi Đô Mạc Thị Lâu và mộ của Thuyền Trư Võ Qưới Công.

Tộc Mạc Tà Kiệu đổi theo quốc tính Nguyễn Phước được 5 đời. Đến thời kỳ quân Tây Sơn nổi lên, tộc Mạc ở Trà Kiệu phải đổi thành họ Nguyễn Trường và giữa họ này từ đó cho đến nay.

Sau khi Mạc Cảnh Huống qua đời, dân làng Cổ Tai ở Quảng Trị đã coi ông như vị ân nhân của làng, vị thần bảo hộ làng. Mỗi lần giỗ kỵ tưởng niệm ông, vị tộc trưởng làng Cổ Trai đã khấn: “Ngài trở lại hoàn toàn sự hoàn thiện bản lai nư cũ bằng những cố gắng. Ngài đã thực hiện các tuân thủ và nhịn ăn một cách chu đáo, Ngài thực hiện việc tích đức với tất cả sức lực của mình trong một ngôi nà hưu trí thờ Phật, luôn luôn Ngài cầu khẩn vì mục đích tỏ lòng biết ơn đối với ân tứ và làm tròn bổn phận đối với Đức Phật hoặc là để tự giải thoát cho mình khỏi nỗi tam đồ. Một khi làm cho mình tự biến đổi như vậy, Ngài đã tự nâng cao sự tinh thông hoàn toàn, sau khi Ngài tịch, người ta đã dâng tặng nhiều phẩm tước cao quý và chúa Nguyễn đã tôn kính Ngài như một vị Phật mà sự xuất hiện trên cõi đời này cũng giống như sự xuất hiện của các Đức Phật khác” (17).

Theo tài liệu lưu trữ của tộc Ngô (tức họ Mạc) ở làng Cổ Trai, Hải Dương (nay là huyện Kiến Thụy, Hải Phòng), hàng năm bà con trong tộc đã tổ chức hiệp kỵ một cách trọng thể ba vị thần bảo vệ dòng họ (tức Mạc Cảnh Huống, Mạc Thị Giai và Nguyễn Phúc Ngọc Liên) và các vị đại nhân của họ Mạc vào ngày rằm tháng 5 âm lịch hàng năm.

Khi vua Duy Tân lên ngôi (1907-1916) đã đánh giá lại công lao của các huân thần trong buổi sơ khai xây dựng vương triều nhà Nguy��̃n, đã ra Sắc phong ngày 24 thánh 12 năm Duy Tân thứ Nất (1907), truy tặng Mạc Cảnh Huống (tức Nguyễn Trường Huống) là Khai quốc công thần.

Nguyên văn Sắc phong như sau:

Phiên âm:

Thừa

Thiên hưng vận

Hoàng đế chế viết: Trẫm duy quân tử, khuông thời chi lược, vĩnh thế hữu từ, hy triều chương vãng chi ân. Vô công bất báo, quyện duy hiền tá, hạp bí ân luận.

Tiền triều Thống binh Thái phó, truy phong nguyên huân Nguyễn Trường Huống, thôn Đẩu hùng tâm, đề qua tráng chí, phụ Vệ, Anh chi lược, hoài Quản, Cát chi tài. Hội tế long vân, ngộ Thánh minh nhi ủy, duyên hài ngư thủy, tham duy ốc dĩ vận trù, cơ tằng vũ tiễn yêu gian, quang hà điển binh chi mệnh. Độc thị vân đài đồ họa.

Do hư Thượng tướng chi đàn, ngôn niệm Nguyên huân nghi trù dị ốc. Tư đặc truy tặng Khai quốc công thần Đặc tiến Tráng võ tướng quân Đô thống phủ Đô thống Chưởng phủ sự. Thụy Tung Trinh Liệt, tư vu Trung Nghĩa từ Tích chi cáo mệnh.

Ư hi! Vinh du hoa cổn, thức chương nhất tưu chi bao, sắc khởi truyền đài, thượng bội tam sinh chi cảm, hữu tri linh sảng, thức khắc chỉ thừa.

Khâm tại!

Duy Tân Nguyên niên

Thập nhị nguyệt, Nhị thập tứ nhật.

Tạm dịch:

Noi theo,

Vận trời hưng thịnh.

Hoàng đế chế rằng: Trẫm nghĩ các bậc quân tử, mưu lược cứu thời, danh thơm muôn thuở. Ân nghĩa ấy đời đời rạng rỡ. Kẻ không có công ắt không được báo đáp, người hiền tài phò tá phải luôn được nhớ ơn.

Triều trước Thống binh Thái phó được truy phong Nguyên huân Nguyễn Trường Huống, chí lớn nuốt trôi sao Đẩu, dũng khí cầm ngang ngọn dáo, coi khinh mưu lược Vệ Khanh, Anh Bố, hoài nhớ tài cao Quản Trọng, Khổng Minh (18). May gặp được bậc Thánh minh mà ủy thác, khác nào rồng mây, cá nước gặp nhau. Trong màn trướng vận trù mưu lược, đã bao phen gian nguy tên đạn, công nghiệp vẻ vang nắm giữ binh quyền, đáng được ghi tên vẽ tượng ở trên Vân Đài.

Bởi do đàn thờ Thượng tướng bị hỏng hư, tưởng nên phải có nơi thờ Nguyên huân riêng biệt. Nay, đặc cách truy tặng Khai quốc công thần Đặc tiến tráng võ tướng quân Đô thống phủ, Đô thống chưởng sự. Thụy là Trung Trinh Liệt, thờ tại đền Trung Nghĩa. Cho đem ban bố.

Hỡi ôi! Một lời khen hay đúng mực, đẹp đẽ hơn cả áo Cổn hoa. Nhắc cho ở dưới suối vàng hãy cảm nhận lấy vật phẩm lễ nghi. Hễ biết linh thiêng, lập tức vâng lời.

Kính thay!

Ngày 24 tháng 12

Duy Tân năm đầu (1907).

Đến năm 1927, dưới thời Bảo Đại (1925-1945), Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (École francaise d’ Extrênme Orient) lập dự án nghiên cứu khu di tích Champa ở Trà Kiệu (Kinh thành Sư tử Simhapura), mà đồi Bảo Châu nằm trong diện khai quật. Giám đốc Trường này đã gửi đơn lên Triều đình Huế ngày 2-7-1927 xin phép thực hiện dự án và Triều đình Huế đã ra văn bản chấp thuận ngày 11-9 năm đó (19).

Vì vậy, chính quyền huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam đã kết hợp với tộc Nguyễn Trường ở Trà Kiệu tổ chức nghi lễ dời mộ cuả danh thần Nguyễn Trường Huống cùng những người thân đã táng trước đây trong vườn chùa Bảo Châu Sơn trên đồi Bảo Châu.

Nghi lễ cải táng được tiến hành theo đúng thủ tục dưới sự chứng kiến của Tri huyện Duy Xuyên Trần Văn Lỵ và một hậu duệ của danh thần là Nguyễn Trường Biên, được triều đình chỉ định, có lính tráng bảo vệ.

Thân tộc Nguyễn Trường đã bốc di cốt vào chiều ngày 16-9-1927 và đến 8 giờ sáng ngày hôm sau 17-9-1927, lễ cải táng được tiến hành trọng thể tại chân núi Non Trược (núi Trà Kiệu), cách đồi Bảo Châu chừng 200m. Các ngôi mộ được xây bằng xi măng hình chữ nhật.

Nghi lễ cải táng các ngôi mộ nói trên có J.Y.Claeys tham dự. Ông mô tả tỉ mỉ sự việc này trong bài Nghi lễ chuyển dời các ngôi mộ ở Trà Kiệu đăng trên Tạp chí của Trường Viễn Đông Bác cổ (BEFEO) năm 1927 (20).

Theo J.Y.Claeys, mộ của danh thần Nguyễn Trường Huống được gắn bia cũ có mái che nhỏ đơn giản. Nội dung chạm khắc trên bia như sau:

“Nước Đại Nam

Thành Thái thứ 18, này 12 tháng 4 (5-5-1906)

Thủy tổ tịch giữa các thần, chức Thống thủ, hàm Huống Đức hầu, tước Thái phó, tặng Nguyên Huân Quốc tính, pháp danh Thuyền Cảnh Chân Tu.

Tộc phụng lập

Hậu duệ Trường Biên dựng bia” (21).

Sau này nước nhà thống nhất 1975, các hậu duệ tộc Mạc-Nguyễn Trường đã trùng tu lại lăng mộ của danh thần Mạc Cảnh Huống tức Nguyễn Trường Huống. Xung quanh lăng có tường thành thấp cách điệu bao quanh, trên cổng lăng có biển trắng ghi hàng chữ Quốc ngữ màu đỏ thành hai dòng “Lăng mộ Mạc Thống thủ”.

Ở trên 2 trụ cổng lăng khắc hai hàng câu đổi chữ Hán chạy dọc sơn màu váng trên nền đỏ:

Bắc địa hưng bang đa tuấn kiệt

Nam thiên khai quốc đại công thần.

Tạm dịch:

Đất Bắc dựng non nhiều anh kiệt,

Trời Nam mở cõi lắm công thần.

Phía trước mộ của danh thần là nà bia cao và trên mộ chí bằng đá cẩm thạch ghi các hàng chữ Hán:

“Thành Thái thứ 18, ngày 12 tháng 4 (5-5-1906)

Hiển thủy tổ Huống Đức hầu tặng Thái phó Nguyên huân Quốc tính

Pháp danh Thuyền Cảnh Chân Tu chi mộ

Bổn tộc đồng phụng lập”.

Trong khuôn viên của khu lăng, ngoài ngôi mộ của danh thần Mạc Cảnh Huống, còn có mộ của phu nhân Nguyễn Ngọc Dương, Sư  bà Diệu Minh Mạc Thị Lâu, Quốc sư Võ Qưới Công cùng mộ Phó tướng quốc Đốc đồng chí Thanh Lộc hầu Nguyễn Quý Công Mạc Cảnh Vinh và Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Liên (22).

 

Ngoài ngôi đình thờ chung danh thần Mạc Cảnh Huông như đã nói, trước năm 1940, tộc Nguyễn Trường ở xã Trà Kiệu Tây đã dựng thêm một nhà thờ tộc riêng trên nền cũ của chùa Bảo Châu Sơn để thờ Mạc Cảnh Huống và các vị Tiên hiền, Thế thư của tộc Mạc. Nhà thờ tộc này đã bị phá hủy thời Tây Sơn.

Trong kháng chiến chống Pháp, đình thờ Mạc Cảnh Huống ở Trà Kiệu bị hư hỏng phần tiền sảnh, còn nà thờ Ngũ Xã thì bị hư hỏng trầm trọng. Đến năm 1955, tộc Mạc- Nguyễn Trường cúng 12 tộc Mạc khác của Ngũ Xã dựng lại nhà thờ Ngũ Xã mới, rộng 5 gian trên nền đình thờ danh thần Mạc Cảnh Huống trước đây. Bài vị của Mạc Cảnh Huống được đặ ở gian giữa cùng với các bài vị của các vị Tiên hiền của Ngũ xã Trà Kiệu. Nhà thờ này đã bị phá hủy năm 1963, tộc Mạc- Nguyễn Trường đã xây dựng nhà thờ tộc mới, gọi là  Mạc-Nguyễn từ đường trên nền chùa Bảo Châu Sơn tự cũ, cách nhà thờ Ngũ Xã chừng 200m. Bên trong nhà thờ treo nhiều bức hoành phi câu đối với nội dung phong phú.

Ngoài câu đối bằng chữ Hán ở phía trước lăng mộ của danh thần Mạc Cảnh Huống đã được nêu ở trên còn có các câu đối khác như:

“Tổ lai Bắc địa căn nguyên thủy

Hồi trứ Nam thiên vũ trụ tiên”

Tạm dịch:

“Gốc trước quê cha trên đất Bắc

  Về xây tiên tổ chốn trời Nam”.

Ở bên Tả của chánh tẩm treo câu đối màu vàng trên nền đỏ:

“Quốc tước tập phong hoa cổn miện

Công thần phò chúa tráng dư đồ”

Tạm dịch:

“ Tước hiệu vua ban cùng mũ áo

Công thần phò chúa mở cõi bờ”.

Ở bên Hữu của tẩm treo câu đối:

“ Trà Sơn linh tú phụng quang cửu

Đông Phụ căn miêu tộc tánh trường”

Tạm dịch:

Núi Tà Kiệu linh kiệt mãi quang vinh

Gò Đông gốc rễ lưu danh họ

Ở gian giữa chính điện treo câu đối:

Quốc súng công thần khâm đế mạng

Sắc phong Thượng tướng hà triều ân

Tạm dịch:

Nước quý công thần vâng mệnh chúa

Sắc phong Thượng tướng chịu ơn vua

Nói chung, nội dung của các hoành phi và câu đối trong Mạc-Nguyễn từ đường nói lên nguồn gốc của họ Mạc, công đức của danh thần Mạc Cảnh huống cũng như lòng biết ơn của tộc Mạc đối với ân sủng của nà Nguyễn.

Hiện nay tại nhà thờ này còn bảo quản sắc phong của vua Duy Tân truy phong cho Thống binh Mạc Cảnh Huống là Khai quốc công thần vào năm 1907 nư đã nói ở trên.

Tháng 2 năm 2000, các tộc Ngũ xã Trà Kiệu đã trùng tu Nhà thờ Ngũ Xã và tổ chức lễ kỷ niệm 530 ngày thành lập. Trong dịp này, các tộc Ngũ Xã đã đề nghị với tộc Mạc-Nguyễn Trường xin rước bài vị của danh tướng Mạc Cảnh Huống về thờ lại tại Nhà thờ Ngũ Xã như trước đây. Chiều ngày 26 tháng 2 năm Canh Thình, tức ngày 30-2-2000, lễ rước bài vị đã được tổ chức trọng thể. Hiện nay, bài vị của danh tướng Mạc Cảnh Huống được thờ tại gian giữa cùng 13 vị Tiên hiền khác của các tộc Ngũ Xã. Cũng vào dịp này Nhà thờ Ngũ Xã Trà Kiệu đã được xếp hạng và được công nhận là Di tích Lịch sử- Văn hóa của địa phương.

 

CHÚ THÍCH

(1) Viện Sử học: Nà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử. 1996

Cuốn sách này đã dẫn cuốn Lê Triều thông sử của Lê Quý Đôn thì Mạc Đăng Doanh chỉ có 7 con trai (Phúc Hải, Kính Điển, Tý Trường, Lý Hòa, Hiệp Cung, Phúc Tư và Đôn Nhượng), như vậy không có ai là Cảnh Huống và không cho biết có một thân vương nào theo Nguyễn Hoàng, tr 446- 447.

Nhưng trong Đại Nam liệt truyện tiền biên lại đánh giá rằng Mạc Cảnh Huống là một trong ba khai quốc công thần của nhà Nguyễn.

Theo gia phả của tộc Mạc làng Trà Kiệu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam hiện nay thì Mạc Cảnh Huống là con trai của Mạc Phúc Hải, em ruột của Mạc Kính Điển cà chú ruột của Hoàng hậu Mạc Thị Giai, hậu của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.

(2), (5), (17) Léopold Cadière: Au sujet de l’ épouse de Sai Vuong. B.AV.H 1922. No3, p.221-232.

(3), (7), (8), (9), (13), (15) Nguyễn Trường Mười: Gia phả tộc Mạc (tức Nguyễn Trường) xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.1996 (tài liệu nội bộ).

(4), (6) Léopold Cadière: Généalogie de la Princesse Giai, épouse de Sai Vuong. B.AV.H 1943. No4, p.379-406.

(18) Veejcos lẽ là Vệ Khanh người Bình Dương làm Đại tướng thời Hán Võ Đế, được phong tước Trương Bình Hầu. Anh là Anh Bố người đời Chiến Quốc theo phò Sở Bá Vương Hạng Võ được phong làm Cửu Giang Vương.

Quản tức Quản Trọng, người thời Xuân Thu Chiến Quốc, phò tá Tề Hoàng Công làm nên nghiệp bá, được phong tới chức Thừa Tướng.

 (10) Cristoforo Borri: Relation de la nouvelle mission dé Pères de la Compagnie de Jésus au royaume de la Cochichine, 1631.

(11)Georges Taboulet: La gét francaise en In do-chine, 1955.

(12) Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam liệt truyện tiền biên, 1821, tr 130-132.

(14) Ở nhiều địa điểm khác nhau mà trước đây nhánh sông đó đã chảy quan, như ở sân vận động Gò Dổi, gần miếu Thành hoàng, cạnh nhà thờ Trà Kiệu hiện nay, người ta đã đào đươc di vật như dây neo, ván thuyền…

(16) Không đúng như đã ghi trong Đại Nam liệt truyện tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn là ông chết tại chức.

(19), (20), (21) J.Y.Claeys: Crémonie pour  le déplace-ment de tombes à Tra Kieu, BEFEO. 1927, p. 479-451.

(22) Theo tộc Mạc-Nguyễn Trường ở xã Duy Sơn thì có hai ngôi mộ của Phò mã Phó tướng  Nguyễn Hữu Vinh và Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Liên là những ngôi mộ gió, không có hài cốt, chỉ có tính chất tượng trưng.

 

(Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2-2002 trang 59-65)

 

 

 


 

Viết bình luận